Cổng thông tin chính thức của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam - Tổ chức đại diện cấp quốc gia của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ IV và vấn đề đặt ra đối với chính sách phát triển SMEs Việt Nam

10:11:24 10/11/2016
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ IV và vấn đề đặt ra đối với chính sách phát triển SMEs Việt Nam.
 

Đồng chí Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VINASME.
(Ảnh: Thế Hiển)

Chúng ta đang đứng trước cuộc cách mạng công nghệ mà  nó sẽ thay đổi triệt để về cách chúng ta sống, làm việc và quan hệ nhau. Trong vấn đề quy mô, phạm vi và phức tạp của việc thay đổi này, nó sẽ không giống như bất cứ những gì mà nhân loại đã từng trải qua trước đây. Chúng ta vẫn chưa biết là nó sẽ chuyển biến như thế nào, nhưng có một điều rõ ràng là các phản ứng đối với vấn đề này phải được tích hợp và toàn diện, nó có liên hệ đến tất cả các bên liên quan của một cơ chế toàn cầu, từ các khu vực công và tư nhân cho đến các giới trí thức và xã hội dân sự.

Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ I đã sử dụng năng lượng hơi nước và nước để làm cơ khí hoá cho sản xuất. Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ II đã sử dụng năng lực điện để tạo ra sản xuất trong một quy mô lớn. Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ III sử dụng các thiết bị điện tử và công nghệ thông tin để làm tự động hóa cho sản xuất. Hiện nay, cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ IV được xây dựng dựa trên Cách mạng Công nghiệp lần thứ III, đó là một cuộc cách mạng kỹ thuật số đã xuất hiện từ giữa thế kỷ trước. Đặc trưng cuả nó là một sự hợp nhất của các loại công nghệ và làm xoá nhoà ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học.

4 cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử: (1) Cơ khí hóa với máy chạy bằng thủy lực và hơi nước. (2) Động cơ điện và dây chuyền sản xuất hàng loạt. (3) Kỷ nguyên máy tính và tự động hóa. (4) Các hệ thống liên kết thế giới thực và ảo.
 
 
 Cơ hội và thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ IV:
Trong cuộc cách mạng thứ tư, chúng ta sẽ đến với sự kết hợp giữa thế giới thực, thế giới ảo và thế giới sinh vật. Những công nghệ mới này sẽ gây ảnh hưởng to lớn đến mọi luật lệ, mọi nền kinh tế, mọi ngành công nghiệp, đồng thời cũng thách thức ý niệm của chúng ta về vai trò thực sự của con người. Sẽ thay đổi ý thức của chúng ta về ý nghĩa của phạm vi riêng tư, khái niệm của chúng ta về quyền sở hữu, các cách tiêu thụ, mua bán của chúng ta.

Tuy nhiên, cái gì cũng đi kèm với những rủi ro, về khả năng các tổ chức, doanh nghiệp có thể sẽ chưa sẵn sàng đón nhận các công nghệ tối tân hay Chính phủ sẽ gặp khó trong việc tuyển dụng người cũng như quản lý các công nghệ này một cách toàn diện. Công nghệ mới sẽ dẫn đến những thay đổi về quyền lực, gây ra những lo ngại về an ninh cũng như về khoảng cách giàu nghèo. Khoảng cách này có lẽ sẽ bị nới rộng thêm nếu không được kiểm soát tốt.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tạo ra các lợi ích hết sức to lớn. Người tiêu dùng dường như được hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc cách mạng công nghệ này. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới với chi phí không đáng kể phục vụ người tiêu dùng. Trong tương lai, tri thức sẽ quan trọng hơn vốn tư bản, nó sẽ thể hiện là một yếu tố quan trọng của sản xuất, Điều này sẽ làm phát sinh một thị trường lao động ngày càng tách biệt thành hai lĩnh vực là “kỹ năng thấp/lương thấp" và "tay nghề cao /lương cao". Do đó, nó sẽ dẫn đến tình trạng căng thẳng trong xã hội gia tăng.

Sự thay đổi quan niệm về cung-cầu:
Về phía cung ứng, nhiều ngành công nghiệp đang chứng kiến sự du nhập của các công nghệ mới. Nhờ tiếp cận được với các nền tảng kỹ thuật số toàn cầu dành cho công việc nghiên cứu, phát triển, tiếp thị, dịch vụ và phân phối, có thể thay đổi cải thiện phẩm chất, tốc độ, hoặc giá cả …Những sự thay đổi lớn lao về phía cầu cũng đang xảy ra, khi sự minh bạch ngày càng rõ hơn, quan tâm của người tiêu dùng, và các khuôn mẫu mới về hành vi của người tiêu dùng  buộc các doanh nghiệp phải  thích nghi với cách mà họ thiết kế, tiếp thị, và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ.

Nhìn tổng thể, có bốn hiệu ứng chính mà cuộc Cách mạng Công nghiệp lần IV tạo ra trong lĩnh vực kinh doanh, đó là sự xuất hiện của các nền tảng mới cho toàn cầu và các mô hình kinh doanh mới khác, có nghĩa là tài năng, văn hóa và hình thức tổ chức sẽ phải được xem xét lại với những chuẩn mới.

Có thể nói ở thời điểm hiện tại, các hệ thống chính trị, xã hội hay kinh doanh của chúng ta chưa thực sự sẵn sàng đón nhận làn sóng chuyển đổi mà cuộc cách mạng này sẽ mang lại, nhưng trong tương lai, những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu xã hội sẽ là điều tất yếu xảy ra.
 
Những vấn đề đặt ra đối với chính sách phát triển doanh nghiệp nói chung và SMEs nói riêng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ IV:
 
Khi thế giới vật lý, số và sinh học đang tiếp tục xích lại gần nhau hơn thì công nghệ và thiết bị sẽ ngày càng cho phép người dân tiếp cận gần hơn tới Chính phủ để nêu ý kiến, cùng phối hợp hoạt động. vì vậy, Chính phủ sẽ ngày càng đối mặt nhiều hơn  với áp lực phải thay đổi cách thức tiếp cận hiện nay của mình đối với sự tham gia của công chúng và quy trình đưa ra quyết định khi vai trò trung tâm của Chính phủ trong việc thực thi chính sách suy giảm trước sự xuất hiện của các nguồn cạnh tranh mới, sự phân phối lại và phân bổ quyền lực dưới sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ.

Điều này đặc biệt đúng trong hệ thống điều hành của Chính phủ. Trước tốc độ thay đổi nhanh chóng và tác động sâu rộng của cuộc Cách mạng Công nghiệp thứ IV, các nhà lập pháp và điều hành sẽ phải đối diện với thử thách ở một mức độ chưa từng có tiền lệ và phần lớn trong số đó chưa cho thấy khả năng ứng phó tốt.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ IV; vấn đề chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho tương lai vô cùng quan trọng. Đây chính là nguồn nhân lực tương lai cho SMEs hướng tới cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ IV. Kinh nghiệm của Nhật bản Đầu tháng 6/2016, chính phủ Nhật đã chính thức thông qua chương trình giáo dục lập trình mới cho học sinh phổ thông. Theo đó, tất cả các học sinh cấp 2 trường công tại Nhật sẽ bắt buộc phải học lập trình ngay từ đầu cấp. Mục tiêu của chương trình này là để chuẩn bị lực lượng nhân sự sẵn sàng cho “cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ IV”, Trên thực tế, việc cho học sinh học lập trình không chỉ đang trở thành xu thế tại Nhật mà còn rất nhiều nước khác trên thế giới. Từ năm 2000, lập trình là môn học bắt buộc tại các trường trung học ở Israel. Năm 2014, chính phủ Anh công bố chương trình dậy lập trình bắt buộc cho học sinh từ 5 tuổi. Tháng 1/2016, Hoa Kỳ cũng đã công bố kế hoạch đầu tư 4 tỷ USD vào chương trình đào tạo ngành khoa học máy tính cho học sinh. Google và nhiều doanh nghiệp IT sẽ cùng hợp tác để mở các chương trình dậy lập trình miễn phí cho học sinh phổ thông.

Tuy nhiên, theo Bộ giáo dục Việt nam lại đang có dự kiến đưa tiếng Nga và tiếng Trung từ năm học lớp 3! phải chăng là để để chuẩn bị lực lượng nhân sự sẵn sàng cho “cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ IV”?. Chúng ta có nên học tập theo kinh nghiệm giáo dục của Nhật, Israel và Hoa Kỳ … Chúng ta cần phải định hình cho một tương lai mà nó hoạt động cho chúng ta bằng cách đặt con người là ưu tiên và tạo cho con người có khả năng (đây chính là nguồn nhân lực của SMEs).

Để làm được điều này, chúng ta phải phát triển một quan điểm toàn diện và cùng được chia sẻ trên bình diện toàn cầu về cách làm thế nào mà công nghệ đang ảnh hưởng đến cuộc sống và định hình lại các môi trường kinh tế, xã hội, văn hóa và con người.

Hiện nay  đa số SMEs Việt Nam đang sử dụng công nghệ của những năm 1980, trong đó 52%  đang sử dụng thiết bị lạc hậu, 38% sử dụng thiết bị trung bình, chỉ 10% là thiết bị hiện đại.  Cả nước chỉ có khoảng trên 250 DN khoa học - công nghệ (bằng 0,06% tổng số DN). Chi phí đầu tư cho đổi mới khoa học công nghệ của doanh nghiệp bình quân chiếm khoảng 0,3% doanh thu (Ấn Độ tỷ lệ này là 5%, Hàn Quốc là 10%, Nhật Bản là 50%). Ngoài  ra tại Việt Nam theo số liệu thống kê của TBKTSG Online, trong  5 năm (2011-2015), có 11.738 công trình khoa học được công bố quốc tế, song có chưa tới 20% tổng số doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp có trình độ công nghệ tiên tiến, mà chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ IV, vấn đề nguồn nhân lực công nghệ cao là thách thức đầu tiên và rất lớn đối với SMEs, đặc biệt trong bối cảnh việc tiếp cận nền tảng công nghệ cao của SMEs còn rất hạn chế . Ngoài ra còn tồn tại nhiều vấn đề khác như các doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn đang trong tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, sản phẩm nông nghiệp chưa bảo đảm an toàn và chưa thực sự quan tâm đến xây dựng thương hiệu. Việc liên kết theo chuỗi giá trị giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài còn ở mức độ thấp. Bên cạnh đó, vấn đề đạo đức xã hội và nhất là đạo đức trong kinh doanh cũng là thách thức của Việt Nam.

Để cộng đồng doanh nghiệp trong đó có trên 90% là sở hữu tư nhân và đang chiếm tỷ lệ hơn 97% trong tổng số các doanh nghiệp của Việt Nam, đang đóng góp khoảng 42% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách, chiếm khoảng 31% vốn đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp nói chung, đóng góp trên 50% vào tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia hàng năm và quan trọng là đang tạo ra trên 62% tổng việc làm của Việt Nam, bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ IV, một cách tự tin và thành công.

Ngay từ bây giờ, bằng cách nhanh nhất có thể chúng ta phải khẩn trương xây dựng một số chính sách trọng tâm như: (i) hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ cho SMEs để phát triển sản phẩm mới, công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, sản phẩm chủ lực, sản phẩm trọng điểm; hỗ trợ phát triển, bảo vệ tài sản trí tuệ; (ii) Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, đào tạo khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp sáng tạo, quản trị doanh nghiệp hiện đại... (iii) Thiết lập hệ thống thông tin với cơ sở giữ liệu luôn cập nhật đầy đủ và đảm bảo luôn được công bố công khai về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế; về tất cả các kế hoạch, chương trình, dự án, hoạt động của nhà nước(trừ những chương trình, dự án bí mật quốc gia); thông tin chỉ dẫn kinh doanh; về tín dụng, thị trường trong nước và xuất khẩu, sản phẩm, công nghệ; thông tin về hoạt động, nghiên cứu trao đổi, tham khảo của các cơ quan, tổ chức về mọi mặt liên quan đến “đời sống” doanh nghiệp; về kinh nghiệm quốc tế ...

Để làm được điều đó, cộng doanh nghiệp và nhân dân rất cần Chính phủ cần phải xây dựng một bộ máy quản lý và hoạt động “năng động” hơn,  giống như việc khu vực kinh tế tư nhân hiện nay đang ngày càng có ứng phó linh hoạt trước sự phát triển của phần mềm và hoạt động của các doanh nghiệp nói chung. Điều này có nghĩa là các nhà lập pháp phải không ngừng thích nghi với môi trường mới và biến đổi nhanh chóng, đồng thời phải trau dồi bản thân để thực sự hiểu rõ họ đang điều hành cái gì. Để làm được vậy, Chính phủ và cơ quan lập pháp cần có sự quan tâm đặc biệt và  hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp và công dân của mình.

 
Đ/c Tô Hoài Nam
Phó Chủ tịch & Tổng Thư ký-VINASME 
(Theo Tạp chí Kinh tế số 8)

 
Gửi bình luận của bạn
Mã xác nhận

Liên kết website

Thăm dò ý kiến

    Những vấn đề nào doanh nghiệp quan tâm nhất

  • Giảm thuế
  • Cơ chế chính sách
  • Bán hàng giá rẻ
  • Lãi xuất ngân hàng
  • Hình thức khác
  • Thị trường